Ngày 19/5/2026 tới đây, toàn thể nhân dân Việt Nam kỷ niệm 136 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn nửa thế kỷ kể từ khi Bác đi xa, những gì Người để lại cho dân tộc vẫn còn nguyên giá trị: một đất nước độc lập, một con đường cách mạng đúng đắn, và một tấm gương đạo đức mà thế giới trân trọng. Hãy cùng nhìn lại những dấu mốc lịch sử lớn nhất trong cuộc đời phi thường của Người.
Xuất thân và tuổi trẻ mang chí lớn (1890 – 1911)
Ngày 19/5/1890, Hồ Chí Minh sinh ra ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Lúc nhỏ mang tên Nguyễn Sinh Cung, sau đổi thành Nguyễn Tất Thành khi đi học.
Lớn lên trong cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, từ nhỏ Người đã được cha dẫn đi thăm các sĩ phu yêu nước và các di tích lịch sử, từ đó sớm hun đúc lòng yêu nước và chí hướng tìm con đường cứu dân tộc.
Rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước (1911)
Ngày 5/6/1911, con tàu Amiran Latusơ Tơrêvin rời cảng Nhà Rồng đến Pháp, mang theo người thanh niên Nguyễn Tất Thành với quyết tâm tìm lại độc lập cho dân tộc.
Cuộc hành trình đó kéo dài ba mươi năm bôn ba khắp bốn châu lục, từ châu Á, châu Âu, châu Mỹ đến châu Phi. Người làm đủ nghề để kiếm sống, sống hoà mình với người lao động khắp nơi, và từng bước hiểu rằng con đường giải phóng dân tộc của Việt Nam gắn liền với cuộc đấu tranh chung của nhân loại.
Bản Yêu sách tám điểm gửi Hội nghị Versailles (1919)
Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh gửi tới Hội nghị Versailles bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa.
Đây là lần đầu tiên một người Việt Nam dám đứng trước diễn đàn quốc tế lớn nhất thời bấy giờ để đòi quyền bình đẳng cho dân tộc mình. Dù yêu sách không được chấp thuận, hành động đó vang lên như một tiếng chuông thức tỉnh lương tri nhân loại.
Tìm ra con đường cứu nước: Trở thành người cộng sản (1920)
Tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Khoảnh khắc đó đánh dấu bước ngoặt lớn nhất trong tư tưởng của Người. Từ một thanh niên yêu nước tìm đường cứu dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy học thuyết Marx – Lenin như ánh sáng soi đường, và khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.”
Sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930)
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng duy nhất của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho cuộc đấu tranh giành độc lập.
Đây là dấu mốc mang tính quyết định. Lần đầu tiên trong lịch sử, phong trào yêu nước Việt Nam có một tổ chức lãnh đạo thống nhất, có đường lối cách mạng rõ ràng và có sợi dây gắn kết với phong trào cách mạng quốc tế.
Trở về Tổ quốc sau 30 năm xa cách (1941)
Sau ba mươi năm xa Tổ quốc, tìm đường cứu nước, ngày 28/1/1941, Hồ Chủ tịch bí mật về đến Pắc Bó, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, để cùng với Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
Tại hang Pắc Bó, trong điều kiện vô cùng gian khổ thiếu thốn, Bác sống và làm việc, dịch sách lý luận, viết tài liệu hướng dẫn phong trào, chuẩn bị từng bước cho cuộc tổng khởi nghĩa mà Người biết rằng sớm muộn sẽ đến.
Cách mạng tháng Tám và Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945
Mùa thu năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam vùng lên tổng khởi nghĩa thành công. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
Bản Tuyên ngôn mở đầu bằng những lời trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp, khẳng định khát vọng tự do, bình đẳng của người Việt Nam trước toàn thể nhân loại. Đó là một trong những văn kiện lịch sử quan trọng nhất của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.
Lãnh đạo hai cuộc kháng chiến trường kỳ
Dưới sự dẫn dắt của Người, dân tộc Việt Nam đã làm nên những kỳ tích mà thế giới phải kinh ngạc. Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, buộc một cường quốc thực dân phải ký kết Hiệp định Geneva thừa nhận độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ tiếp theo, dù không còn sống để chứng kiến ngày toàn thắng, Bác đã để lại những định hướng chiến lược đủ vững chắc để dẫn đường cho toàn dân tộc.
Bản Di chúc lịch sử (1969)
Trước khi qua đời ngày 2/9/1969 tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc Đảng và nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng đất nước sau chiến tranh.
Bản Di chúc viết trong nhiều năm liên tiếp từ 1965 đến 1969, là những lời căn dặn tha thiết về đoàn kết trong Đảng, về chăm lo đời sống nhân dân, về xây dựng đất nước sau chiến tranh và về lý tưởng mà Người theo đuổi suốt cả cuộc đời. Câu kết thúc Di chúc, “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”, đã trở thành một trong những lời từ biệt cảm động nhất trong lịch sử dân tộc.
UNESCO vinh danh: Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất (1987 và 1990)
Năm 1987, UNESCO ra Nghị quyết 24C/18.65 tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”, khẳng định Người là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Năm 1990, theo Nghị quyết đó, UNESCO tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trụ sở UNESCO, Paris, đánh dấu sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với di sản mà Người để lại cho nhân loại.
Đây là sự vinh danh hiếm có. Không nhiều nhà lãnh đạo trong lịch sử nhân loại được tổ chức giáo dục và văn hóa lớn nhất thế giới đặt ngang hàng vừa là anh hùng dân tộc vừa là danh nhân văn hóa.
Di sản Bác để lại cho muôn đời
Sự đóng góp về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình.
Di sản Bác để lại không chỉ là lãnh thổ toàn vẹn, độc lập, chủ quyền mà còn là tinh thần, là cách sống, là đạo đức mà Người thể hiện suốt cả cuộc đời. Một nhà lãnh đạo không nhà riêng, không tài sản tích lũy, không màng danh vị cá nhân, chỉ một lòng vì nước vì dân. Đó là điều mà cả bạn bè lẫn đối thủ đều phải thừa nhận.
Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ước nguyện thiêng liêng nhất của Bác trong Di chúc đã được thực hiện: đất nước thống nhất, non sông liền một dải.
Nhân kỷ niệm 136 năm ngày sinh của Người, chúng ta không chỉ nhìn lại lịch sử mà còn nhắc nhở mình về trách nhiệm với những gì Bác đã dày công gây dựng.
Nguồn tham khảo: Tiểu sử Hồ Chí Minh (hochiminh.vn), Kỷ niệm 35 năm UNESCO ra Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (Báo Chính phủ), Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Hồ tại UNESCO Paris (Bảo tàng Hồ Chí Minh)
